MỘT VÒNG YÊU THƯƠNG
- Xunpham

- 4 thg 3, 2020
- 9 phút đọc
Đã cập nhật: 13 thg 3, 2020
Hàng cây bên đường lần lượt qua tôi. Tôi chào Hà Giang bằng cái mặt ngái ngủ đầy sung sướng, quay sang chị, chị còn đang ngủ.
Giờ là 5h sáng, chiều hôm qua mẹ còn giận dỗi giữ tôi ở nhà. Phụ xe thông báo còn 30’ nữa là đến bến xe mới Hà Giang, tôi mở cửa xe để lấy tí hơi sớm nơi đây.
Cũng giống bến Mỹ Đình, chúng tôi xuống trong sự mời gọi bằng nhiều thứ tiếng của nhiều bác xe ôm. Chị nắm chắc cổ tay tôi dắt đi lấy đồ để kịp chuyến xe về quê chị.
Hà Giang cũ kĩ thật. Tôi đi mà không chuẩn bị nhiều như những lần trước kia. Lần này, mọi thứ đều tối giản đến mức giản dị. Tôi đi theo lời mời của chị và sự phản đối của cả bố và mẹ. Chị chẳng họ hàng gì với nhà tôi cả, chị là người t quen khi đi học, chị là người dân tộc, dân tộc Mường. Chị xuống thành phố được 5 năm, chị nói tiếng phổ thông rất thạo, thi thoảng lại pha vài câu Mường để chửi ai đó, hi
Đi theo chị, tôi cố gắng đọc hết những băng rôn đang treo lơ lửng trong bến xe.
“Lễ hội làng dệt thổ cẩm Lùng Tám”, tôi chôn chân tại chỗ, đặc biệt ấn tượng với cái tên Lùng Tám và những họa tiết được in hoa mỹ trên băng rôn này. Như có một luồng điện, tôi không hiểu mình đang nghĩ gì.
Chị nhất quyết không đồng ý để tôi đi một mình. Chị vò đầu đúng “kiểu dân tộc”, hối hận vì đã đưa tôi đến tận đây.
- Mày chỉ được theo tao về quê, không được đến đó đâu. Ở đấy nghèo lắm, khổ lắm, tao không giữ được mày.
- Tao hứa với bố mẹ mày rồi.
- Thôi mà…

Vậy là chị bắt xe về phía Bắc, đi thêm 140km nữa để về quê Đồng Văn của mình. Còn tôi, cũng bắt xe về phía Bắc, nhưng tôi đến Lùng Tám, Quảng Bạ.
Mất hơn 1 tiếng đồng hồ để tôi thuyết phục chị. Theo ngôn ngữ của mẹ tôi thì tôi đã bị “bỏ bùa” khi nhìn thấy cái băng rôn ấy. Có gì đó thôi thúc tôi đến. Chị dặn: “Mày 21 rồi nhá”, chị nói tôi đủ điều, rồi kêu tôi cứ 2 tiếng phải gọi cho chị 1 lần, chị không cho tôi đi xe ôm, chị gửi tôi cho một chuyến xe ba bánh đông người và còn dạy tôi cách kêu cứu bằng tiếng Mông nữa (hic, ở đây có cả tác các dân tộc mà chỉ dạy người ta có một thứ tiếng).
Trên xe của tôi, mấy người con gái đang khoe nhau những chiếc vòng tay, vòng cổ sáng loáng; còn mấy chú thanh niên thì thi nhau nhe răng cười hoa tỏ ý gạ gẫm gái đẹp, trông rõ buồn cười.
Tinh thần của tôi phấn chấn lên hẳn. Đã đi nhiều nơi, đẹp có, sang trọng có mà hụt hẫng cũng có. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy những dãy núi trùng điệp thật như trong sách giáo khoa người ta từng kể, có cái màu xanh trải miết như thảm. HG đang vào mùa gặt, xa xa có đám khói đốt rạ đang đà bay lên…
Tôi đến Lùng Tám lúc 4h chiều, vừa đói vừa mệt, nhìn cả bản lơ thơ vài đứa trẻ con, mà thầm nghĩ chả nhẽ thằng cha lái xe mải tán gái đưa tôi đi nhầm??? Đã gọi là lễ hội thì phải chuẩn bị tưng bừng hay ít nhất cũng phải có tí gì gọi là “lễ hội” chứ.
Cảm xúc của tôi hụt hẫng vô cùng.
Bằng tất cả kĩ năng sinh tồn, tôi xin vào ở nhà em. Nhà em rất đông thế hệ, từ cụ tổ đến chút chít. Họ nhận lời và gọi tôi là người đồng bằng.
Bữa tối đãi khách thịnh soạn 100% bằng ngô, tôi tranh chân đi rửa bát nhưng được cụ cố ngăn lại, cố bảo bản này không ai rửa bát đêm cả, vì tiếng bát gọi ma rừng về.
Đêm ấy tôi không tài nào ngủ được, tính tôi sợ ma, lại có thói quen hay uống nước đêm, tiếng chim khuyên ngoài kia vang vọng từ vách đá núi đến tận thềm nhà, tôi chả dám cầm đèn đi vệ sinh nữa. Mọi người trong nhà đều ngủ rồi, gia đình này đi ngủ từ 8h. Không biết tôi có qua nổi đêm nay nữa không, tôi có thể chết vì… mót tè quá.
Sớm hôm sau, tôi theo em đến lớp vì em bảo còn 2 ngày nữa mới đến hội thổ cẩm. Đường đến trường em vừa xa vừa trắc trở, tiết trời thu lúc đầu rét run lên nhưng đi một quãng thì nóng hơn mùa hè, tôi theo em đi từ 6h sáng, không ăn gì. Em cho tôi mượn dép leo núi còn dư chỉ vì tiếc đôi giày của tôi.
Em tên Đỳ, 13 tuổi, đang theo học lớp 4. Tôi đã lùn, em còn bé hơn. Đỳ chưa đến vai tôi, dáng người ốm nhom, nhưng em đi giỏi, em đi bỏ tôi một quãng xa tít. Sau một hồi cố gắng bò đi, tôi hỏi em trường ở đâu để em đi trước cho kịp giờ học, còn tôi sẽ từ từ theo sau.
Nguyên một quả đồi là trường em, trường em ở trên cao. Không ồn ào, không phô trương, cả trường là “dãy nhà” cấp 4, trường đông đủ là 3 giáo viên và chưa đầy 40 học sinh. Tôi chỉ kịp ngắm một chút thì nghe tiếng kẻng ra về, em ùa ra như một con mèo, chúng tôi lại về cùng nhau, suốt dọc đường em đọc đi đọc lại bảng nhân 7 và nhí nhảy chẳng khác gì diễn viên. Tôi chỉ cười, vì nguyên ngày tôi chỉ dành để đi rồi về, nếu học ở đây, chắc tôi cũng chủ động xin được nghỉ học.
Đỳ đi học một buổi/ ngày. Bữa nào không theo em lên lớp, tôi ở nhà học dệt từ cụ cố. Cố có hàm răng như lúc đầu tôi nghĩ là của Ngưu Ma Vương, nhìn quen xíu thì thấy giống hàm cá mập, quen nhiều tôi liên tưởng đến cái chổi cùn cho đỡ sợ. Mỗi lần cố cười mà tôi muốn rớt tim. Được cái cố lành lắm, tôi có làm hư cái gì cố cũng chỉ cười cười đuổi ra, không chửi, chỉ bắt ngồi cạnh nghe cố nói, vì cố nói rất rất nhiều: từ những chuyện xửa xưa như con quỷ Cao Mã đến chuyện cái mương, thúng thóc trong mong…
Rút kinh nghiệm đêm trước, đêm nay t không uống nước nhiều, em dập củi là tôi cũng nhắm mắt luôn. Cái tối ở đây đen kịt, chứ không như ở thành phố còn có đèn điện tưng bừng đâu. Tự dưng nhớ mẹ ghê gớm, chắc giờ này ở nhà mẹ đang ăn cơm một mình.
Ngày lễ đến có báo trước, nguyên cả bản rộn ràng tiếng cồng chiêng. Em chọn cho tôi một chiếc váy xòe truyền thống thêu chim phượng quyền lực, tôi ưng lắm. Tôi thích thú chụp hình gửi cho chị, chị khen “Chân mày đẹp hơn gái Mông rồi” kèm theo cái icon mặt cười toe toét làm tôi sướng điên lên.
Tôi ăn thử bất cứ món gì mà em giới thiệu là đặc sản, trừ món thắng cố và mèn mén.
Mọi người ngồi kín hai cái bàn nhỏ trong quán, mỗi người một bát một chén rượu. Em bảo em ăn nhiều gọi hai còn tôi ăn ít gọi một. Bữa nay là hội, thắng cố có cả gà và bò, tất cả được thái to cả xương và lòng đem hầm nhừ trong chảo lớn, người ăn được múc ăn nóng, cái bát trông như cái gàu quê tôi ý. Em ăn ngon lành, húp xì xụp như người ta quảng cáo mỳ gói trên TV. Thoáng nhìn thôi tôi đã nuốt không trôi, cái màu đặc trưng cứ nâu nâu đen đen vậy. Đợi Đỳ ăn sang bát thứ hai tôi mới cầm thìa ăn thử. Vị thì có lạ nhưng ôi cái mùi, tôi không biết khi làm lòng người ta có gạt kỹ ruột già không nữa. Tôi nhường em ăn cả ba bát, tôi bảo tôi no rồi và tự hứa lần sau sẽ dũng cảm hơn. Em cười hì hì, rồi lại kéo tôi đi ăn mèn mén...
Là hội thổ cẩm nên bao quanh bản treo đầy là vải vóc, váy áo đủ loại màu sắc. Từ bộ dệt đơn giản kia mà những bàn tay ấy có thể làm ra những mảnh vải tỉ mỉ đến từng sợi then, tôi phục thế! Người trong bản nô nức vui chơi và trao đổi hàng hóa với nhau. Tôi như lạc vào thiên đường thổ cẩm. Trước bạt ngàn sản phẩm, tôi chọn mua tặng mẹ cái áo, tặng bà ngoại cái mũ, còn chị và em gái tôi mỗi người một cái khăn quàng của người Mông. Tôi chắc chắn họ sẽ rất thích!
Trước ngày về, tôi theo tía em vào rừng bẻ măng và hái quả sấu cho tôi làm quà. Với tôi thì làm gì ở đây cũng đều khó khăn hết, đi nguyên 1,5 quả núi tía mới dựng gùi bảo tôi đào một cụm măng bé tí tẹo tèo teo. Tôi hỏi sao tía không đào mấy cụm măng to sụ tôi thấy đầy dọc đường, tía bảo nó trồi lên to vậy củ nhỏ như củ khoai, mày thử đào nhánh này lên xem, to lắm đấy.
Thật. Nó to bằng đùi tôi, sức tôi chỉ đủ đeo một nhánh măng và vài cân sấu, nặng muốn chết.
Tôi xếp gọn quần áo vào gầm ghế, còn túi quà tôi phải bỏ vảo cốp xe vì nó quá lớn. Chị cứ rủ tôi bắt ngược xe lên Đồng Văn với chị nhưng tôi từ chối, tôi đã hứa với mẹ sẽ trở về trước kì thi một tuần rồi.
Đêm nay nằm cạnh mẹ, tôi tự hỏi nếu mẹ biết tôi đã tự mình đi đến nơi xa ấy, mẹ sẽ phản ứng như thế nào nhề, tức giận, chửi mắng, hay mẹ sẽ mỉm cười cho qua, tôi cũng không biết nữa, tôi chưa kể với mẹ. Tôi nằm nhớ về em, về những gì đã qua. Tôi thấy nhớ HG!
Ngày tôi về, em khóc thút thít, dấm dúi vào tay tôi mấy củ khoai để ăn dọc đường, rồi cả nhà em đông cỡ cả bản làng tiễn tôi ra tận đầu bản. Không hiểu sao tôi chẳng thấy buồn chút nào. Có lẽ tâm trí tôi vẫn còn đang treo lơ lửng tận đỉnh bạc kia. Chỉ đến khi xe lăn bánh, ngoảnh đầu lại thấy em và tía cùng cụ cố khuất dần sau lớp bụi mờ, tôi mới hay mình đã khóc.

Có lẽ với thành phố này tôi chẳng là gì cả. Nhưng với em, với bọn trẻ con Lùng Tám, tôi là biểu tượng của cả một thế giới hiện đại. Tôi mang đến cho em kẹo ổi, cho em những chiếc bím tóc long lanh, những bộ quần áo khác lạ, những bài hát hay ho mà trẻ con đồng bằng được học và cả những lúc hướng dẫn em nói tiếng Kinh vui vẻ nữa.
Em có nhớ không, tôi đã vẽ cho em tưởng tượng về thủ đô Hà Nội, về Sài Gòn sầm uất, về Hải Phòng, Thanh Hóa, Nam Định, … - về những nơi mà tôi đã đi qua, về Thế giới ngoài kia.
Còn em, em dạy tôi thổi kèn lá, đàn môi; em chỉ cho tôi cách leo núi nhanh mà đỡ mệt, lấy ví dụ cho tôi mẹo thoát nạn trong rừng và vài câu tán tỉnh yêu đương của người Mông nữa.
Còn Lùng Tám - nơi đây cho tôi cả một bầu trời về sự hiếu khách và tình yêu thương.
Những lỏm đá lởm chởm nơi sân trường, những mái hiên lụp xụp trong đêm tối, bát cơm ngô quây quần bên bếp củi, câu hát văng vẳng trong vách đá, tôi yêu hết, yêu cả cái màu xanh núi rừng ôm trọn bản cao. Tôi đã từng nói với đứa em mình rằng: mà đi chơi chị sẽ chọn những nơi đẹp đẽ để tận hưởng chứ chẳng thích đến mấy nơi kiểu như mấy người tình nguyện đâu.
Vậy tại sao tôi lại đến Lùng Tám này, bản thân tôi cũng không hiểu tại sao nữa…
.......................................................................................................................................................
Mẹ vừa thái măng vừa tấm tắc khen măng to mà non thế, ở chợ mình chỉ toàn măng khô bé tí tẹo thôi. Tôi chỉ mỉm cười và nhớ em thực sự...
Tôi hứa với Đỳ nhất định sẽ trở lại.
Tôi còn nợ em mấy gói kẹo ổi và cái cặp sách mới tới lớp. Lần sau đến, nhất định tôi sẽ dũng cảm ăn bát thắng cố - tôi mời em, sẽ thổi được kèn lá theo yêu cầu của em, sẽ kể em nghe về sự thay đổi của đất nước và sẽ cho em được thấy búp bê Barbie đẹp cỡ nào.
Tôi hứa mà!
Nam Định, 9/2016.



Bình luận